Bài thuốc dân gian trị chứng xơ gan cổ trướng

Ở nông thôn miền núi, do tiếp xúc với di chứng bệnh sốt rét, nghiện rượu, kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm hạn chế, cộng với lâm sơn chướng khí, nên có một số người bị chứng xơ gan cổ trướng, một trong tứ chứng nan y. Xin sưu tầm bài thuốc dân gian trị bệnh này như sau:

Dược liệu:

– Cây chó đẻ răng cưa còn gọi diệp hạ châu. Cả cây dược liệu khô 100g (tươi 300g).

– Quả dứa dại tách ra từng múi dùng khô 100g, dùng tươi 300g.

– Cây mã đề, dùng tươi 50g.

– Củ tam thất, xay thành bột mịn 6g/ngày chia làm 3 lần.

Cách dùng: Sắc 3 vị thuốc đầu với 2 lít nước còn 1/2 lít. Chia làm 3 lần hòa với bột tam thất 2g mỗi lần – ban ngày uống 2 lần, ban đêm uống 1 lần. Uống liên tục một ngày một thang trong vòng 30 ngày.

Ngày thứ 31 có thể bỏ vị mã đề nếu bụng mềm, đi tiểu bình thường, và giảm vị tam thất còn 3g/ngày chia 3 lần hòa thuốc uống.

Liệu trình điều trị 6 tháng (theo kinh nghiệm).

– Điều trị 15 ngày: Bệnh nhân thấy người nhẹ nhõm, ăn ngủ được, đi lại trong nhà.

– Điều trị 30 ngày: Bụng mềm, nhỏ lại, bệnh nhân khỏe, tự giải quyết mọi sinh hoạt cá nhân.

– Điều trị 3 tháng: Bệnh nhân hoàn toàn khỏe, gan, lách mềm, nhỏ nhưng siêu âm thấy gan còn thô (còn xơ gan).

Tháng thứ 4 vẫn uống 3 vị trên (dứa dại, diệp hạ châu và tam thất).

Tháng thứ 5 và 6 uống 1 tuần 2 thang gồm 2 vị (dứa dại, diệp hạ châu).

Sau 6 tháng điều trị bệnh nhân khỏe đạt 80-90%, lao động bình thường.

Ghi chú: Nếu bụng trướng nước, gan cứng to gây khó thở thì trục nước ra bằng một trong các cách sau:

Bài 1: Rễ cỏ tranh khô 70g (tươi 210g), vỏ quả cau (đại phúc bì) 3 vỏ, hạt mã đề (xa tiền tử) 30g, đậu đen sao vàng 50g. Cho nước 1.000ml sắc còn 300ml chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 2: Nếu đã uống bài 1 từ 1-2 thang bệnh nhân vẫn khó thở, bụng vẫn trướng nước thì uống bài 2.

– Vị thuốc: Lá nhót tươi 100g + lá cây cà phê, chè tươi 100g. Nước 600ml sắc còn 200ml uống hết một lần khi nước còn ấm.

– Sau khi uống từ 1-2 giờ bệnh nhân đi tiểu 7-8 lần/ngày (lượng nước tiểu từ 8-9 lít).

– Cầm đi tiểu: Cho uống nước sắc hạt đậu xanh còn nguyên vỏ. Đậu xanh 150g nước 400ml sắc còn 150ml để thật nguội. Khi bệnh nhân đi tiểu được 7-8 lít thì cho bệnh nhân uống.

– Khi cần đến bài trục nước thứ 2 này thì dừng uống thuốc trị bệnh một ngày.

Theo Báo Nông Nghiệp

Posted in Y học Dân gian | Tagged | Để lại bình luận

Những bài thuốc chữa tình dục suy giảm

“Tình dục giảm thoái” hay “Tình dục suy giảm” (sexual hypoesthesia, hyposexuality) chỉ hiện tượng ham muốn tình dục bị suy giảm, hoặc là mất hẳn. Thực ra, ở người bình thường, cường độ tình dục rất khác nhau, do sự khác biệt về thể chất, tính cách, cũng như hoàn cảnh sinh hoạt và công việc. Do đó, để phán đoán tình dục có suy giảm hay không, không thể so sánh theo chiều ngang – giữa người này và người khác, mà cần so sánh theo chiều dọc – chỉ nên so sánh với nhu cầu của chính bản thân mình, trong giai đoạn trước.

Do có sự khác biệt rất lớn về tình dục giữa các cá thể, nên rất khó đưa ra một tiêu chuẩn thống nhất. Ngay cả đối với từng cá nhân, tình dục cũng biến đổi rất nhiều, tùy theo tuổi tác, trạng thái tinh thần, tình hình sức khỏe, điều kiện sinh hoạt, tình cảm vợ chồng, cũng như trải nghiệm của bản thân mình.

Tuy nhiên nói chung, nếu như cuộc sống tình dục diễn ra một cách có quy luật, đều đặn khoảng hơn một năm, mà nhu cầu tình dục vẫn cứ rất thấp, hoặc không có nhu cầu, hoặc thiếu hứng thú, thì có thể phán đoán là mắc chứng tình dục suy giảm.

Đối với nam giới, tình dục suy giảm thường có ảnh hưởng tới quá trình bột khởi, cương cứng và phóng tinh, nhưng tình dục suy giảm khác với “dương nuy” (rối loạn cương, liệt dương).
Dương nuy là tình trạng muốn giao hợp, nhưng dương vật không thể bột khởi. Tình dục suy giảm, thường kèm theo dương nuy, do không ham muốn hoặc ít hứng thú.

Tuy nhiên, người  tình dục suy giảm không nhất thiết mắc chứng dương nuy, vì khi có những kích thích từ phía bên ngoài, như thay đổi hoàn cảnh, thay đổi bạn tình,…  thì quá trình bột khởi, cương cứng lại có thể diễn ra hoàn toàn bình thường.
Đối với nữ giới, tình dục suy giảm thường có ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt,  không có cao trào, ra nhiều khí hư (huyết trắng bệnh lý), ….

Tình dục suy giảm không chỉ ảnh hưởng tới quan hệ vợ chồng, hạnh phúc gia đình, mà còn là những biểu hiện cụ thể của một số trạng thái bệnh lý, về phương diện thể chất cũng như tinh thần, vì vậy cần có sự quan tâm thích đáng, cần kiểm tra sức khỏe thường xuyên, phát hiện sớm vấn đề và tiến hành chữa trị kịp thời.

Theo Y học cổ truyền, hoạt động tình dục có quan hệ mật thiết với trạng thái sức khỏe toàn thân và chức năng của tạng Thận. Bước sang tuổi xế chiều, âm khí và dương khí trong cơ thể đã giảm quá nửa, vì vậy tình dục giảm sút dần là lẽ tự nhiên.
Nhưng nếu tình dục bị suy giảm quá sớm, thì lại là triệu chứng lão suy trước tuổi. Trên lâm sàng, hiện tượng tình dục suy giảm thường gặp ở những bệnh nhân bị suy nhược toàn thân (âm dương khí huyết suy nhược), viêm thận mạn tính, đặc biệt là suy thận mạn tính.

Ngoài ra, tình dục suy giảm cũng thường liên quan tới trạng thái bệnh lý, mà Đông y gọi là “Can uất”; nghĩa là tình trạng tình chí không thoải mái, bị ức chế,  khiến cho khí huyết mất điều hòa, làm cho can khí bị nghẽn tắc (uất kết) mà gây nên bệnh.
Để chữa trị, có thể căn cứ vào những chứng trạng, biểu hiện cụ thể, mà sử dụng một trong số các bài thuốc sau:

Bài thuốc 1
– Thành phần: Thục địa 12g, sơn dược 25g, đan bì 10g, trạch tả 10g, sơn thù nhục 10g, phục linh 15g, hạt hẹ 10g, dâm dương hoắc 15g, nhục quế 5g,  thỏ ty tử 15g, lộc giác giao 15g (hòa vào sau).
– Cách dùng: Lộc giác giao để riêng, cho các vị thuốc còn lại vào ấm, đổ ngập nước trên mặt thuốc 2-3cm, đun to lửa cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa thêm 20 phút, chắt nước thuốc ra; mỗi thang sắc 2 lần, hợp 2 nước, hòa tan lộc giác giao (cao sừng hươu) vào nước thuốc, chia ra 2-3 lần uống trong ngày.
– Tác dụng: Bổ thận trợ dương, chữa tình dục giảm thoái, ở cả nam và nữ. Với những biểu hiện: Ham muốn tình dục thấp hoặc chán ghét chuyện chăn gối. Nam giới có thể kèm theo dương nuy, tảo tiết. Nữ giới chậm kinh, kinh huyết ít, sắc huyết nhợt, khí hư (huyết trắng) lượng nhiều và loãng.
Kèm theo sắc mặt nhợt nhạt, lưng gối đau mỏi yếu, sợ rét, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, người mệt lả. Chất lưỡi bệu nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì vô lực (chìm, chậm, yếu).

Bài thuốc 2
– Thành phần: Bạch thược 15g, hương phụ 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, sài hồ 12g, phục linh 10g, phật thủ 10g, hợp hoan bì 10g, uất kim 10g, cam thảo 6g.
– Cách dùng: Cho các vị thuốc vào ấm, đổ ngập nước trên mặt thuốc 2-3cm, đun to lửa cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa thêm 20 phút, chắt nước thuốc ra; mỗi thang sắc 2 lần, hợp 2 nước, chia ra 2-3 lần uống trong ngày.
– Tác dụng: Sơ can giải uất, chữa tình dục giảm thoái, ở cả nam và nữ. Với những biểu hiện: Lạnh nhạt đối với chuyện chăn gối, thiếu khoái cảm trong lúc sinh hoạt, ngực sườn thường đầy tức khó chịu, chán ăn, tính tình nóng nảy dễ cáu giận. Nữ giới kinh nguyệt rối loạn, hành kinh đau bụng. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mạch huyền (căng như dây đàn).

Bài thuốc 3
– Thành phần: Đương quy 12g, xuyên khung 9g, bạch thược 12g, thuc địa 12g, đẳng sâm 15g, bạch truật 10g, phục linh 15g, chích cam thảo 10g, đại táo 5 trái, mộc hương 6g, sơn dược 20g, nhục quế 5g.
– Cách dùng: Sắc và uống như Bài thuốc 2.
– Tác dụng: Kiện tỳ ích khí bổ huyết, chữa tình dục giảm thoái, ở cả nam và nữ. Với những biểu hiện: Lạnh nhạt đối với chuyện chăn gối, nét mặt không tươi, mệt mỏi, hơi thở ngắn, đầu choáng mắt hoa. Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế nhược (chìm, nhỏ, yếu).

Bài thuốc 4
– Thành phần: Nhân sâm (sắc riêng) 10g, chích hoàng kỳ 15g, đương quy 15g, bạch thược 15g, xuyên khung 10g, thục địa 20g, phục linh 15g, bạch truật (sao) 10g, nhục quế 3-6g, chích cam thảo 10g, sa uyển tử 15g, câu kỷ tử 15g, a giao (hòa tan sau) 10-20g.
– Cách dùng: Sắc và uống như tương tự Bài thuốc 2; Nhâm sâm sắc riêng, cùng với a giao hòa vào nước thuốc sau khi sắc các vị thuốc còn lại.
– Tác dụng: Ích khí bổ huyết, chữa tình dục giảm thoái do mắc bệnh lâu ngày hoặc bệnh nặng mới khỏi, ở cả nam và nữ.
Với những biểu hiện: Tinh thần uể oải, người mệt mỏi, kém ăn, đại tiện nhão, đêm ngủ ra nhiều mồ hôi trộm (đạo hãn), lúc thức mồ hôi tiết ra nhiều nhất là khi vận động (tự hãn), tiếng nói yếu nhỏ, đầu choáng mắt hoa, mất ngủ hay quên, bồn chồn, trống ngực. Lưỡi nhợt có vết răng, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế thiểu lực (chìm nhỏ yếu).
Nam giới thường kèm theo dương nuy, hoạt tinh. Nữ giới thường kèm theo chậm kinh, lượng kinh huyết ít, hành kinh đau bụng.

Bài thuốc 5
– Thành phần: Hoàng kỳ 30g, tiên linh tỳ 15g, tục đoạn 15g, hà thủ ô 12g, đương quy 12g, tang thầm tử 9g, câu kỷ tử 9g, ngũ vị tử 9g, thỏ ty tử 9g, phúc bồn tử 9g, xa tiền tử 9g, ba kích 9g, mộc hương 9g, trần bì 9g, toan táo nhân 15g.
– Cách dùng: Sắc và uống như Bài thuốc 2.
– Tác dụng: Kiện tỳ bổ thận, dưỡng tâm; chữa tình dục suy giảm ở nam giới do tỳ thận lưỡng hư. Với những biểu hiện: Lạnh nhạt chuyện chăn gối, phóng tinh yếu, bụng trướng kém ăn, tinh thần mệt mỏi, đầu choáng mắt hoa, tai ù, hay quên, mất ngủ, nằm mơ nhiều, lưng mỏi, gối đau, hoặc kèm theo dương nuy, tảo tiết, di tinh.

Theo Lương y Huyên Thảo
Posted in Y học Dân gian | Tagged , , , , , , , | Để lại bình luận

Bài thuốc chữa liệt dương

Theo Đông y, có 3 nhóm nguyên nhân gây liệt dương: cơ thể suy nhược (tâm tỳ hư), rối loạn thần kinh chức năng (thận hư) và viêm nhiễm hệ tiết niệu sinh dục kéo dài (thấp nhiệt tích trệ). Đơn thuốc được kê tùy theo các nguyên nhân này.

Liệt dương do suy nhược cơ thể

Thể này hay gặp ở người mắc bệnh mạn tính về tiêu hóa hoặc hệ thống tuần hoàn. Ngoài triệu chứng liệt dương, bệnh nhân còn có biểu hiện da xanh, mặt vàng, ăn kém, ngủ ít, thảng thốt, tinh thần bất an, đoản hơi, đoản khí.

Bài thuốc: Nhân sâm, long nhãn, bạch truật, phục thần mỗi thứ 12 g, hoàng kỳ, đương quy, toan táo nhân mỗi thứ 16 g, mộc hương 6 g, viễn chí 6 g, cam thảo 4 g. Mỗi ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày thì nghỉ 10 ngày, liên tiếp trong 3 tháng.

Liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng

Thể này do hoạt động tình dục quá độ, thủ dâm gây ra.

Nếu do thận âm hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương, di tinh, hoạt tinh, người gầy, da khô, đau lưng, mỏi gối, ù tai, ngủ ít. Dùng bài thuốc: thục địa 16 g, sơn thù, trạch tả, đan bì mỗi thứ 8 g, hoài sơn, phục linh, kỷ tử, nhục thung dung, ngũ vị tử, trâu cổ, long nhãn mỗi thứ 12 g. Ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày, sau đó nghỉ 10 ngày, trong 3 tháng liên tiếp.

Nếu do thận dương hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn), di tinh, hưng phấn giảm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, mệt mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh. Dùng bài thuốc: thục địa, thỏ ty tử, phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh, lộc giác giao mỗi thứ 120 g, làm viên hoàn, ngày uống 30 g.

Liệt dương do viêm nhiễm

Hay gặp trong sỏi tiết niệu, sỏi bàng quang, viêm bàng quang mạn tính. Người bệnh có triệu chứng: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ.

Bài thuốc: hoàng bá nam 20 g, ý dĩ, trâu cổ mỗi thứ 16 g, mạch môn, kỷ tử, thục địa, ích trí nhân, ô dược, ngưu tất mỗi thứ 12 g, tỳ giải 24 g, sắc uống ngày 1 thang, uống 20 thang trong 1 tháng.

Chú ý: Trong thời gian uống thuốc, cần tránh quan hệ tình dục.

Theo SK&ĐS

Posted in Y học Dân gian | Tagged , , , , , , , , | Để lại bình luận

Bài thuốc đơn giản chữa xuất tinh sớm

Trong y học cổ truyền, xuất tinh sớm được gọi là chứng tảo tiết do nhiều nguyên nhân gây nên và được trị liệu bằng nhiều phương thức khác nhau, trong đó có biện pháp ngâm thuốc.

Dưới đây, xin được giới thiệu một bài thuốc hữu hiệu đơn giản như sau:

Công thức: Địa phu tử 30g, khổ sâm 30g, ngũ bội tử 20g, hạt tiêu 20g.

Cách chế: Tất cả đem ngâm với 2 lít nước trong 30 phút, sau đó sắc nhỏ lửa trong 20 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước thuốc để dùng.

Cách dùng: Khi nước thuốc còn nóng, đem xông hơi hạ bộ cho đến khi nước còn hơi ấm thì tiếp tục ngâm dương vật và dịch hoàn cho đến khi nước nguội hoàn toàn. Trong khi ngâm dùng tay lộn hết bao quy đầu và kích thích trực tiếp dương vật để làm thuốc ngấm trực tiếp và tạo hưng phấn gây cương cứng. Nếu thấy khoái cảm và xuất hiện cảm giác muốn xuất tinh thì nhấc dương vật và hạ bộ ra khỏi nước thuốc, đợi đến khi dương vật hơi mềm thì lại tiếp tục ngâm, thời gian chừng 20 phút. Nước thuốc có thể dùng lại lần thứ hai, mỗi ngày thực hành hai lần, 14 ngày là một liệu trình. Có thể tiến hành 2 – 3 liệu trình.

Về phương diện y học cổ truyền, bài thuốc có công dụng lợi thấp thanh nhiệt, cố thận sáp tinh (làm cho thận khí vững chắc, tinh dịch không bị xuất ra sớm). Về phương diện y học hiện đại, bài thuốc có tác dụng  kháng khuẩn tiêu viêm, làm giãn mạch máu, tăng cường lưu lượng tuần hoàn tại chỗ và làm giảm tính mẫn cảm của dương vật thông qua tác động của yếu tố nhiệt và chất thuốc, nhờ đó mà khiến cho người bệnh thoát khỏi tình trạng “chưa đi chợ đã hết tiền”.

ThS.Hoàng Khánh Toàn

Posted in Y học Dân gian | Tagged , | Để lại bình luận

Cây Nga truật

Tên Hán Việt khác: Bồng nga truật, Thuật dược, Thuật, Nga mậu, Mậu dược, Quảng mậu, Ba xát, Thanh khương, Bồng truật, Phá quan phủ (Hòa Hán Dược Khảo) Nga truật, Xú thể khương, Hắc tâm khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Nghệ đen, Ngải tím, Nghệ xanh, Bồng truật, Nga truật, Tam nại (Việt Nam).

Tên khoa học: Curcuma zedoaria Roscoe.

Họ khoa học:  Gừng (Zingiberaceae).

Mô tả: Cây thảo cao chừng 1-1,5m có thân rễ hình nón, có khía dọc, củ tỏa ra theo hình chân vịt, đặc nạc, vỏ củ màu vàng nhạt ở bên ngoài, vỏ già có những vòng màu đen, ruột màu tím xanh. Ngoài những củ chính ra, còn có những củ phụ có cuốn trái xoan hay hình quả lê, màu trắng. Lá có bẹ dài ở gốc, phiến hình mũi mác dài tới 60cm, rộng cm, có những đốm đỏ dọc theo gân chính, không có cuốn hay có cuốn ngắn. Cán hoa ở bên cạnh hoa có lá, mọc từ rễ, dài tới 20cm thường xuất hiện trước khi ra lá. Cụm hoa hình trụ dài tới 20cm rộng 5cm lá bắc phía dưới hình trái xoan hay hình mũi mác tù, lợp lên nhau, màu lục nhạt, viền đỏ ở mép, các lá bắc bên trên không sinh sản màu vàng nhạt, điểm thêm màu hồng ở chóp. Hoa nhiều dào 4-5cm, màu vàng. Đài hình ống, có lông, có ba răng, không đều. Tràng hình ống dài hơn đài 3 lần, các thùy hình mũi mác tù. Bao phấn hình trái xoan có các ô kép dài xuống dưới  thành cựu rẽ ra, ngọn trung đới dạng bản tròn, chỉ nhị dính với các nhị kép. Cánh môi thót lại ở gốc, lõm lại ở đỉnh, màu vàng, nhị lép hình mũi mác tù hay thuôn dính nhau ở nửa dưới. Bầu có lông, nhụy lép hình đùi.

Phân biệt:

(1) Củ rễ của Nga truật gọi là Nga linh có nơi người ta dùng với tên Uất kim cần nên phân biệt (Xem: Uất kim).

(2) Có trường hợp lấy Nga truật sửa sang hình dạng, để giả dạng nhân sâm tam thất (Xem: điền thất).

(3) Phân biệt với Nghệ trắng (Curcuma aromatica salisp).

Địa lý:  Mọc hoang và được trồng ở vườn ruộng nước Việt Nam.

Phần dùng làm thuốc: Thân rễ (củ) tươi hay khô. Củ khô rất cứng vỏ ngoài màu vàng nâu, trong sầm xanh, đen dần (nên gọi là Hắc tâm khương) có mùi thơm đặc biệt củ có hình con quay.

Mô tả dược liệu: Nga truật dùng thân củ khô hình con thoi hoặc hình tròn trứng, hơi dẹt, đầu dưới nhỏ dần, đầu trên hơi phình to, dài khoảng 2-4cm đến hơn 3cm, thô khoảng 12mm đến 27mm, bên ngoài màu xám nâu, bóng trơn hoặc có vết nhăn ngang dọc không đều, đỉnh có đốt vòng nối dứt không đều, hình cạnh tù lồi lên, chính giữa có vết thân, vùng đốt vòng phình to đầu trên rõ ràng và khít hơn, đốt vòng đầu dưới không rõ , trên đốt có rải rác vết rễ hình viên trụ, hoặc gốc tàn rễ, chất cứng mặt cắt ngang  gần chất sừng, phần gân lớp bần, có 1 vòng lớp màu nâu đậm, chính giữa rải rác đốm chấm màu vàng đất, có mùi thơm nồng nặc đặc biệt, hơi cảm thấy kích thích.

Thành phần hoá học:

. Curzerenone 44,93%, Borneol 4,28%, Germacrone 6,16%, Pinene, Camphene, Limonene, 1,8-cineol, Terpinene, Isoborneol, Caryophylene, Curcumene, Caryophyllene epoxide, Turmerone, ar-turmerone,  Curdione (Phương Hồng Cự, Dược Học Học Báo 1982, 17 (6) : 441).

. Curcurmenole,  Isocurcurmenole (Chương Phản, Trung Thảo Dược 1986, 17 (6) : 244).

. Difurocumenone  (Shiba K và cộng sự, C A 1990, 112 : 42559a).

Tác dụng dược lý:

. Dầu Nga truật có tác dụng phá và ức chế tế bào ung thư gan. Nước sắc Nga truật làm tăng sự hấp thu máu và huyết cục trong bụng thỏ thực nghiệm, có tác dụng kháng khuẩn, kiện Vị và chống có thai sớm (Trung Dược Học).

Tính vị:

. Vị đắng cay, tính ôn, không độc (Khai Bảo Bản Thảo).

. Vị đắng, tính bình (Y Học Khải Nguyên).

. Vị đắng cay tính ấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Qui kinh:

. Vào kinh Phế, Tỳ (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

. Vào kinh túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hội Ngôn).

.Vào kinh Can (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tác dụng, Chủ trị:

+ Là yếu dược trị các loại khí tích tụ (Bản Thảo Đồ Kinh).

+ Trị tim, hoành cách mô đau (Y Học Khải Nguyên).

+ Trị mã đao chưa phá mủ mà cứng (Trân Châu Nang).

+ Trị trùng tích (Dược Tính Năng Độc).

+ Năng trục thuỷ, trị bệnh ở Tâm, Tỳ, phá khí bĩ (Y Học nhập Môn).

+ Trị trưng hà, tích tụ, Khí trệ, thực tích, đau sưng vùng bụng trên, Ứ huyết, ứ  kinh,  ứ tích do chấn thương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Liều dùng: 3 – 9g.

Kiêng kỵ:

. Hợp với Tam lăng rất tốt (Bản Thảo Đồ Kinh).

. Suy nhược không có tính trệ, đàn bà có thai cấm dùng, nều dùng phải kèm Sâm và Truật (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Thu hái, sơ chế: Thu hoạch củ vào mùa đông hoặc từ tháng 12-3 năm sau cắt bỏ rễ con rửa sạch.

Bào chế:

+ Lấy chậu sành có đáy nhám đổ giấm vào mài Nga truật cho hết xong hơ trên than lửa cho khô rồn lấy bột ấy dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Lùi vào tro nóng cho chín mềm, giã nát nhỏ, tẩm giấm sao (Bản Thảo Cương Mục).

+ Đồ chín rồi phơi khô, xắc mỏng rồi phơi, hoặc trước khi xắc mỏng ngâm dấm (cứ 600g Nga truật ngâm với 160g dấm và 160ml nước), đun đến cạn, mang ra bào mỏng phơi khô. Nếu tứ chế được như Hương phụ thì càng tốt (Dược Tài Học).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Củ tươi: rửa sạch, thái lát phơi khô. Khi dùng tẩm giấm hoặc nước đồng tiện một đêm, sao qua.

Củ khô: rửa sạch, đồ nhanh cho mềm rồi thái lát, tẩm sao như trên (thường dùng).

Tán bột (sau khi đã tẩm sao) để làm hoàn tán.

Bào chế như Hương phụ tứ chế thì rất tốt.

Bảo quản: Để nơi khô ráo, đậy kín, sấy phơi.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị các chứng đau do lãnh khí xung tâm: Bồng nga truật (tẩm rượu) 60g, Mộc hương (lùi) 30g, tán bột uống với giấm, mỗi lần 1,5g (Hộ Mệnh Phương).

+ Trị tiểu trường co thắt: Nga truật tán bột, uống với rượu và Hành 3g, lúc đói (Hộ Mệnh Phương).

+ Trị đàn bà đau do khí huyết, lưng đau: Nga truật, Can tất, 2 vị bằng nhau, tán bột, uống với rượu 6g, đau lưng uống với rượu, Đào nhân (Phổ Tế Phương).

+ Trị trẻ nhỏ đau bụng co quắp: Nga truật 15g, A ngụy 3g, giã nát, đắp quanh bụng, sấy khô, bên trong uống với nước Tử tô (Bảo Ấu Đại Toàn ).

+ Trị trẻ nhỏ ọc sữa: Nga truật một ít, một ít muối,  sắc với 1 chén nước, bỏ bã, thêm 1 ítù Ngưu hoàng vào uống (Bảo Ấu Đại Toàn ).

+ Trị trẻ nhỏ bị khí thống: Nga truật đồ chín, tán bột, uống 3g với rượu  (Thập Toàn Phổ Cứu Phương).

+ Trị bế kinh, huyết tích: Nga truật, Nghệ vàng, Nghệ trắng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị thức ăn uống đình trệ, tích tụ: Bồng Nga truật, Nhân sâm, Quất bì, Súc sa mật, Kinh tam lăng, Nhục đậu khấu, Thanh bì, Mạch bá, Mộc hương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị đau bụng trệ nặng xuống do bế kinh: Nga truật 6g, Xuyên khung 1,15g. Thục địa 9g, Bạch thược 9g, Bạch chỉ 9g, tán bột lần uống 9g ngày 3 lần với nước muối (Nga Truật Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị đau sườn dưới: Kim linh tử 15g, Nhũ hương, Mộc dược, Tam lăng, Nga truật mỗi thứ 1,15g sắc uống (Kim Linh Tả Can Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị gãy xương: Nga truật, Điền thất (nghiền riêng uống với thuốc). Đài mã dược, Đào nhân mỗi thứ 6g, Thổ miết, Tam lăng, Oai linh tiên, Xích thược, Cốt toái bổ, tục đoạn, Hồng hoa, Trạch lan, mỗi thứ 3g, Sinh địa 9g, Quy vĩ 12g, sắc với nửa cân rượu ngày uống 1 thang (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị ăn uống tích trệ, ngực bụng đầy trướng, nôn mửa nước chua: Bồng nga truật, Tam lăng, mỗi thứ 1,15g, Trần bì 9g, Hương phụ 6g, La bặc tử 1,15g, Sa nhân 3g, Thanh bì 6g, Chỉ xác 6g, Hồ hoàng liên 3g, Lô hội 3g, Hồ tiêu 3g 5, tán bột trộn hồ làm viên mỗi lần uống 1-9g, ngày 2 lần với rượu nóng. Cữ ăn uống sống lạnh ( Nga Truật Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị tắt kinh, bụng đau: Nga truật 8g, Xuyên khung 5g, Thục địa 10g, Bạch thược, Bạch chỉ đều 10g. Tán bột min, mỗi lần uống 10g, ngày 3 lần, với nước muối nhạt (Nga Thủy Tán  – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị đau hông sườn:  Kim linh tử 15g, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật đều 5g, sắc uống (Kim Linh Tả Can Thang – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị chấn thương gãy xương : Nga truật, Điền thất (tán hòa thuốc uống),  Ô dược, Đào nhân đều 6g, Thổ miết giáp, Tam lăng, Uy linh tiên, Xích thược, Cốt toái bổ, Tục đoạn. Hồng hoa, Trạch lan đều 3g, Sinh địa 10g, Qui vĩ 12g. Dùng nước và rượu, mỗi thứ một nửa, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị trẻ nhỏ rối loạn tiêu hóa, đau bụng: Nga truật, Tam lăng đều 5g, Trần bì 10g, Chế hương phụ 6g, La bặc tử 5g, Sa nhân 3g, Thanh bì, chỉ thực đều 6g, Hồ hoàng liên,

Lô hội đều 3g, Hồ tiêu 5g, tất cả tán bột, trộn với hồ làm hoàn, mỗi lần uống 3-6g ngày 2 lần, uống với rượu gạo ấm, kiêng các thức ăn sống lạnh (Nga Truật Hoàn – (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị bênh mạch vành: Dùng thuốc chích Nga Lăng Phức Phương (mỗi ống 2ml tương đương với Nga truật, Tam lăng, An diệp, Hương phụ, Giáng hương đều 2g), chích bắp, mỗi lần 1 ống, ngày 2 lần, một liệu trinh 14 ngày, đa số được đều trị trong 2 liệu trình,

thấy tỷ lệ có kết quả là 82,8%, có kết quả điện tâm đồ là 66,7o/o (Báo cáo điều trị 35 ca bệnh mạch vành của Từ Tế Dân, Thông Tin Trung Thảo Dược 1979, 8:27)

+ Trị viêm da thần kinh : Dùng Phức phương Nga truật (Tam lăng, Nga truật) chế thành thuốc chích, chích bắp hoặc chích huyệt Khúc trì, Huyết hải. Trị 48 ca, khỏi 21 ca, cơ bản khỏi 9 ca, tiến bộ 9 ca, không kết quả 9 ca. Tỷ lệ khỏi: 62%, tỉ lệ có kết quả 81,25% (Bản Thông Tin Nghiên Cứu Phòng Trị Bệnh Ngoài Da 1979, 3:152).

+ Trị bệnh tâm thần (chứng huyết ứ bao gồm các bệnh tinh thần phân liệt, lão hóa sớm, bệnh tâm thắn thể cuồng) : Dùng Nga truật, Xích thược, Đại hoàng theo tỉ lệ 10:3:3, chế thành viên (mỗi viên có 8g thuốc sống), mỗi lần uống 6 – 8 viên, ngày 3 lần, 30 ngày là một liệu trình. Đã trị 71 ca, tỉ lệ có kết quả 5~1% (Tạp Chí Kết Hợp Trung Tây Y 1988, 10:638).

+ Trị bệnh phổi có hội chứng huyết ứ mạn tính như chất lưỡi tím, tĩnh mach dưới lưỡi ứ huyết, bao gồm các bệnh suyễn, viêm phế quản mạn 37 ca. Kết quả tốt 16 ca, có kết quả 16 ca, không kết quả 5 ca, tỷ lệ kết quả 86,6% (Trần Hiếu Bái, Tạp Chí Trung Y 1983, 4:74).

Tham khảo:

. Bồng nga truật cảm khí của cuối hè đầu thu được mùi vị của hành Hỏa và Kim, cho nên đau về khí huyết ngưng trệ dùng về nó đều khỏi, là thuốc tiêu hóa tích trệ, mạnh những người thuộc hư mà uống nó thì tích chưa hết mà nguyên khí ngày càng suy, dùng kèm với Sâm. Truật mới không tổn hại, chỉ có người nguyên khí mạnh khỏe, có bệnh thì bệnh phải chịu lấy (Dược Phẩm Vậng Yếu).

. Tác dụng phá huyết, hoạt huyết của Nga truật mạnh như Tam lăng nên thường dùng trong nhũng trường hợp khí trệ huyết ứ lâu ngày nặng. Nếu huyết ứ làm tắt mạch Xung Nhâm gây tắt kinh, đau bụng, nên phối hợp với Tam lăng, Xuyên khung, Ngưu tất. Đối với chứùng trưng tích lâu ngày, nên phối hợp với các thuốc nhuyễn kiên, tiêu trưng như Miết giáp, Đơn sâm, Tam lăng. Trường hợp thực tích, khí trệ, đau bụng nên kết hợp vời Tam lăng, Mộc hương, Chỉ thực. Trường hợp Tỳ hư, tích trệ, bụng đau, nên kết hợp với thuốc kiện tỳ như Đảng sâm, Bạch truật (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).

. Tam lăng, Nga truật đều là thuốc phá huyết hành khí, là hai vị thuốc thường dùng chung, ngưng Tam lăng có sức phá ứ mạnh hơn, hai vị này đối với người suy nhước đều không nên dùng lâu hoặc nhiều (Lâm Sàng Thường Dụøng Trung Dược Thủ Sách).

Tán bột (sau khi đã tẩm sao) để làm hoàn tán.

Bào chế như Hương phụ tứ chế thì rất tốt.

Bảo quản: để nơi khô ráo, đậy kín, năng phơi sấy.

Kiêng kỵ: cơ thể hư yếu mà có tích thì không nên dùng, muốn dùng phải phối hợp với Sâm, Truật.

Posted in Cây thuốc - Vị thuốc | Tagged , , , , , , , , , , | Để lại bình luận

Cây Ngãi diệp

Tên khác : Băng đài, Y thảo, Chích thảo, Kỳ ngải diệp, Ngải nhung, Trần ngải nhung, Kỳ ngải thán, Ngải y thảo, Hoàng thảo, Ngải cao, Bán nhung, Bệnh thảo, Thổ lý bỉnh phong (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học : Artemisia vulgaris L.

Họ khoa học : Cúc (Asteraceae).

Mô Tả : Loại cỏ sống lâu năm, cao 50-60cm, thân to, có rãnh dọc. Lá mọc so le, rộng, không có cuống, xẻ thuỳ lông chim, mầu lá ở 2 mặt khác nhau> mặt trên nhẵn, mầu lục sẫm, mặt dưới mầu trắng tro vì có rất nhiều lông nhỏ, trắng. Hoa mọc thành chuỳ kép, gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu.

Địa lý : Mọc hoang.

Thu hái, Sơ chế : Hái cành và lá vào tháng 6 (tương ứng với ngày 5-5 âm lịch). Phơi khô trong râm cho khô. Khi hái về, phơi khô, tán nhuyễn, rây lấy phần lông trắng và tơi, gọi là Ngải nhung, dùng làm mồi cứu.

Bộ phận dùng :

Bào chế :

+ Phơi khô giã nát, bỏ gân xanh, cho vào ít bột lưu hoàng (lưu hoàng ngải), dùng để cứu; cho ít bột gạo thì dễ giã nhỏ, dùng để uống (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Ngày Đoan ngọ (5-5 âm lịch), giờ Mùi (13-15g) ra vườn, lặng yên không nói gì cả, cắt Ngải diệp đem về, phơi trong râm cho khô. Càng để lâu càng tốt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, thái ngắn phơi khô. Khi dùng ngải để cứu (ngải nhung) thì phải sao qua, tán bột bỏ xơ.

Dùng tươi thì rửa sạch giã vắt lấy nước uống.

Bảo quản: để nơi khô ráo, tránh ẩm. Thỉnh thoảng nên phơi lại.

Thành phần hóa học :

+ Folium Artenesiae Vulgaris: Thujone, Sitosterol, a-Amyrin, Ferneol, Dehydromatricaria ester, Cineol, l-Quebrachitol, l-Inositol, Atemose (Trung Dược Học).

+ Phellandrene, Cadiene, Thujyl alcol (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Tác dụng dược lý :

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước  sắc Ngải diệp in vitro có tác dụng ức chế đối với Staphylococcus aureus, a-Hemolytic Streptococcus, Streptococcus pneumniae, Shigella sonnei, Salmonella typhi và Salmonella paratyphi (Trung Dược Học).

+ Tác dụng cầm máu: Nước ngâm kiệt Ngải diệp cho thỏ uống, có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu. Chích vào ổ bụng hoặc tĩnh mạch chuột nhắt đều có tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Ngải diệp trong ống nghiệm có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liê cầu anpha dung huyết, phế song cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lỵ Sonner, trực khuânt hương hàn và phó thương hàn, khuẩn thổ ta và nhiều loại nấm gây bệnh. Khói lá Ngải xông trong không khí có thể làm cho các khuẩn lạc giảm 95-99,8%. Cấy khuẩn làm mủ thông thường vào 1 bình cấy rồi xông khói Ngải trong 10 phút, toàn bộ vi khuẩn không sinh trưởng được. Khói của Ngải diệp có tác dụng ức chế các loại virus như quai bị, cúm, Rhinovirus, Adenovirus, virus mụn phỏng … (Trung Dược Học).

+ Tác dụng giảm ho: Dầu Ngải diệp thụt vào dạ dày hoặc chích vào ổ bụng, có tác dụng giảm ho đối với súc vật thí nghiệm như mèo, chuột, chuột lang (Trung Dược Học).

+ Tác dụng hoá đờm: Dầu Ngải diệp bơm vào dạ dày, chích dưới  da hoặc chích vào ổ bụng đều có tác dụng hoá đờm đối với thỏ và chuột nhắt. Thuốc có tác dụng trực tiếp lên phế quản, kích thích xuất tiết (Trung Dược Học).

+ Dầu Ngải diệp có tác dụng an thần của Barbital sodium (Trung Dược Học).

+ Tác động đối với tử cung: Chích hoặc  uống Ngải diệp gây nên co bóp mạnh tử cung heo (Thực Dụng Trung Y Học).

+ Điều trị sốt rét: Cho bệnh nhân  sốt rét uống 2 ngày liều cao Ngải diệp, 2 giờ trước khi lên cơn, có thể chặn cơn đến 89%, đồng thời thử nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét, thấy âm tính trên nửa các ca trên (Thực Dụng Trung Y Học).

+ Trị mụn cơm, mụn cóc: Giã Ngải diệp tươi đắp trên mụn cơm, mụn cóc nhiều lần mỗi ngày thấy mụn bay mất trong 3-10 ngày (Thực Dụng Trung Y Học).

Độc tính: LD50 của dầu Ngải diệp thụt vào dạ dày chuột nhắt là 2,47ml/kg, chích ổ bụng là 1,12ml/kg. LD50 của nước sắc Ngải diệp chích ổ bụng là 23g/kg. dầu Ngải diệp phun sương mỗi ngày 2 lần, trong 30 ngày có thể gây viêm phổi kẽ cho thỏ (Trung Dược Học).

Tính vị :

+ Vị đắng, hơi ôn, không độc (Biệt Lục).

+ Để sống tính hàn, nấu chín tính nhiệt (Tân Tu Bản Thảo).

+ Sống thì hơi đắng, rất cay. Chín thì rất đắng mà ít cay. Sống thì ôn mà chín thì nóng (Bản Thảo Cương Mục).

+ Vị đắng, cay, tính ấm (Trung Dược Học).

Quy kinh :

+ Vào kinh túc Thái âm Tỳ, túc Quyết âm Can, túc Thiếu âm Thận (Bản Thảo Cương Mục).

+ Vào kinh Tỳ, Phế, thận (Bản Thảo Tân Biên).

+ Vào kinh Tâm, thận (Bản Thảo Tái Tân).

+ Vào kinh Tỳ, Can, Thận (Trung Dược Học).

Tác dụng, Chủ trị :

+ Chủ bách bệnh lâu ngày. Sắc uống trị lỵ, nôn ra máu, lở ngứa hạ bộ, lậu huyết, lợi âm khí, sinh cơ nhục, trừ phong hàn, trị không có con (Biệt Lục).

+ Oon trung, trục lãnh, trừ thấp (Bản Thảo Cương Mục).

+ Trị băng huyết, an thai, đau bụng, xích bạch lỵ, trĩ, ngũ tạng ra máu (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trị vết thương chảy máu do  kim khí, băng trung, hoắc loạn, thai lậu (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Trị hoắc loạn chuyển gân, tâm thống, chảy máu mũi, đới hạ (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Ddiêù kinh, khai uất, lý khí, hành huyết. Trị sinh xong bị kinh phong, trẻ nhỏ rốn bị lở loét (Bản Thảo Tái Tân).

+ Ôn bào, chỉ huyết, an thai, khứ hàn, chỉ thống (Trung Dược Học).

Kiêng kỵ :

+ Huyết nhiệt: cấm dùng (Bản Thảo Bị Yếu).

+ Âm hư hoả vượng, huyết táo sinh nhiệt, người vốn bị mất máu: không dùng (Bản Kinh Phùng Nguyên).

+ Huyết nhiệt, âm hư: không dùng (Trung Dược Học).

Liều dùng : 6-12g.

Đơn thuốc kinh nghiệm :

+ Trị kinh nguyệt ra nhiều, tử cung xuất huyết do suy nhược: Ngải diệp 12g, Sinh địa 10g, Đương quy 10g, Bạch thược 5g, Xuyên khung 3g. sắc với 800ml nước còn 300ml, lọc bỏ bã, thêm 12g A giao vào quấy đều, chia 3 lần uống trong ngày (Giao Ngải Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).

+ Trị có thai 2 tháng mà thai bị động không yên: Đại táo 12 quả, Ngải diệp 24g, Sinh khương 24g. Sắc uống (Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương).

+ Trị thương hàn thời khí ôn dịch gây nên đau đầu, nóng như lửa, mạch Hồng, Thực: Ngải diệp phơi khô 90g, sắc kỹ chỉ còn phân nửa, uống hết lúc còn hơi nóng để cho ra mồ hôi thì khỏi bệnh (Trửu Hậu Phương).

+ Trị tử cung lạnh làm cho vô sinh: Bạch thược, Đương quy, Hương phụ (tứ chế), Ngải diệp, Thục địa, Xuyên khung. Tán bột, làm viên. Ngày uống 12 – 16g (Ngải Phụ Noãn Cung Hoàn – Nhân Trai Trực Chỉ Phụ Di).

+ Trị có thai bị thương hàn nóng đến nỗi phát ban, rồi lại biến ra nốt đen, tiểu ra máu: Ngải diệp, viên lại to bằng quả trứng gà, sắc với 200ml rượu, còn một nửa. Chia làm hai lần uống (Thương Hàn Loại Yếu Phương).

+ Trị trúng phong méo miệng: Dùng ống cây Lau, khoảng 30cm, một đầu cắm vào trong lỗ tai, một đầu dùng bột nhão như bánh để trét kín không để hở một tí nào cho gió lọt vào được. Còn đầu ngoài dùng mồi Ngải cứu mà đốt 7 mồi. Méo bên phải, cứu bên trái và ngược lại. Thấy miệng hết méo thì ngưng ngay (Thắng Kim Phương).

+ Trị phụ nữ bị các chứng hư, kinh nguyệt không đều, đau nhói do khí huyết, bụng sườn đầy trướng, chóng mặt, muốn nôn, băng lậu, đới hạ: Đương quy, Ngải diệp đều 80g, Hương phụ 240g. Chưng với dấm nửa ngày, phơi khô, tán bột. Dùng giấm nấu với nếp làm hồ, trộn với thuốc bột làm hoàn. Ngày uống 16 – 20g (Ngải Tiễn Hoàn – Đông Viên Thập Thư).

+ Trị doạ xẩy thai: Ngải diệp, Sa nhân đều 6g, A giao (hoà vào uống), Bạch truật đều 15g, Tô ngạnh, Hoàng cầm đều 12g, Tang ký sinh, Đỗ trọng đều 24g. tuỳ chứng gia giảm, sắc uống. Trị 45 ca doạ xẩy thai chảy máu. Kết quả tốt 26 ca, có kết quả 16ca, không kết quả 3 (Vương Trung Dân – Hà Bắc Trung Y Tạp Chí 1985, 5 : 31).

+ Trị viêm phế quản mạn: Tinh dầu Ngải diệp, bọc trong viên nhựa, cho uống. 10 ngày là một liệu trình. Dùng liên tục 2 liệu trình. Trị 544 ca. kết quả tốt, hết triệu chứng lâm sàng 41,4 – 56,4%. Tỉ lệ có kết quả là 86,4 – 86,7%. Kéo dài thêm liệu trình kết quả tốt hơn. Dùng phun sương dầu Ngải diệp trị 319 ca, tỉ lệ kết quả tốt là 33,5% và có kết quả là 82% (Công Nghiệp Y Dược Tạp Chí 1977, 4 : 55).

+ Trị dị ứng, hen phế quản, viêm phế quản mạn thể hen, viêm da dị ứng (có kết hợp dầu bôi bên ngoài), mề đay, viêm mũi dị ứng, dị ứng do thuốc: Dùng tinh dầu Ngải diệp cho uống mỗi lần 0,15ml, ngày 3 lần. Kết quả đạt 77,3% (Trung Thảo Dược Học Báo 1975, 1 : 43).

+ Trị bệnh gan: Dùng nước cốt chưng Ngải diệp chế thành dịch tiêm. Chích bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần. Liệu trình từ 1-2 tháng. Trong thời gian dùng thuốc có kết hợp dùng thuốc bảo vệ gan và thuốc điều trị triệu chứng. Đã trị 100 ca  (gồm viêm gan kéo dài, viêm gan mạn và xơ gan), kết quả 100% đối với viêm gan kéo dài và viêm gan mạn, 46,5% đối với xơ gan. Tỉ lệ kết qaủc hung là 92% (Khoa Nội bệnh viện nhân dân Cát Lâm – Tân Y Học Tạp Chí 1974, 2 : 83).

+ Trị vết thương bỏng: Lý Bản dùng xông khói Ngải diệp để khử trùng kkhông khí phòng bệnh của trẻ nhỏ bị bệnh, thấy có tác dụng làm cho mặt bỏng bớt mủ, khống chế được nhiễm khuẩn, hết mùi thối, vết bỏng mau khỏi (Trung Hoa Ngoại Khoa Tạp Chí 1960, 13 (9) : 787).

+ Trị kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt kéo dài, đau bụng lúc hành kinh: Hương phụ, Ngải cứu đều 500g, tá dược vừa đủ 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lâng 30ml, uống 1 giờ trước bữa ăn sáng và tối (Cao Hương Ngải – Dược Liệu Việt Nam).

Tham khảo :

+ Lá Ngải tính ôn, trị trung khí hư hàn, hạ tiêu không thu nạp được gây nên huyết không đi theo đường kinh. Ngải diệp có tác dụng tán hàn, chỉ huyết là dùng đúng bệnh với thuốc. Nếu huyết ra nóng nhiều thì trong thuốc cầm máu có một ít lá Ngải dựa theo ý đồng khí tương cầu (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Ngải diệp thường dùng trị xuất huyết do hư hàn. Muốn tăng tác dụng ôn kinh, chỉ huyết thì phải sao thành than. Ngải diệp tính ấm mà thơm, ấm khi huyết, ôn kinh lạc, trục hàn thấp, chỉ lãnh thống, lại dùng làm dược liệu trong thuốc cứu. Ngải diệp phối hợp với bài Tứ Vật và A giao có thể cầm máu, dùng cho bệnh nhân xuất huyết do hạ tiêu hư hàn. Ngải diệp có thể ôn ấm khí huyết ở hạ tiêu, giống như vị Nhục quế nhưng Nhục quế vị cay, ngọt, rất nóng, có thể hành huyết mà không thể cầm máu, có thể truỵ thai mà không an thai. Còn ngải diệp vị đắng, cay, tính ôn, vừa ôn vừa hành khí huyết để điều kinh, lại có thể cầm máu để an thai, đó là điểm bất đồng giữa Nhục quế và Ngải diệp (Thực Dụng Trung Y Học).

Posted in Cây thuốc - Vị thuốc | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Để lại bình luận

Cây Ngũ gia bì

Tên gọi khác : Nam ngũ gia bì (Khoa Học Đích Dân Gian Thảo Dược), Ngũ Dung bì (Triết Giang Dân Gian Thường Dụng Thảo Dược), Hồng ngũ gia bì (Ngạc Tây Thảo Dược danh Lục).

Tên khoa học : Acanthopanax aculeatus Seem.

Họ khoa học : Ngũ gia bì (Arsliaceae).

Mô Tả : Cây cao chừng 2-3m nhiều gai. Lá mọc so le, có từ 3-5 lá chét, phiến lá chét hình bầu dục hay hơi thuôn dài, phía cuống hơi thót lại, đầu nhọn, mỏng, mép có răng cưa to, cuống lá dài 4-7cm. Hoa mọc khác gốc, thành hình tán ở đầu cành. Hoa nhỏ có màu vàng xanh. Quả mọng hình cầu khi chín có màu đen, đường kính độ 2,5mm.

Địa lý : Mọc hoang ở những vùng khí hậu mát như Hoàng Liên Sơn, vùng cao Hà Sơn Bình, Cao Lạng.

Bộ phận dùng : Vỏ rễ. Vỏ ngoài sắc vàng, trong thì trắng ngà, khô, mùi thơm nhẹ, không lẫn tạp chất, không có lõi là tốt. Ngoài ra ta còn dùng:

+ Một loại gọi là Ngũ gia bì hương.

+ Một loại gọi là Ngũ gia bì chân chim. Cây chân chim này có hai thứ: thứ mọc ở núi đá, cây nhỡ, vỏ tía, thơm, có tác dụng tốt; thứ mọc ở núi đất, vỏ dày, xốp, tác dụng kém hơn. Hai cây này thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có thể tạm dùng thay Ngũ gia bì.

Mô tả dược liệu: Vị thuốc thường là những cuộn ống nhỏ, dài ngắn không đều, dầy chừng 1mm, vỏ ngoài mầu vàng, nâu nhạt, hơi bóng, có những nếp nhăn, bì khổng dài, mặt trong mầu xắm trắng, dai, mặt phẳng, có những điểm vàng nâu. Mùi không rõ.

Thu hái, Sơ chế : Thường đào cây vào mùa hạ hoặc mùa thu. Lấy rễ, bỏ gỗ, lấy vỏ, phơi khô.

Bào chế :

Theo Trung Y: Lấy vỏ rễ ngũ gia bì khô rửa sạch, ủ mềm, thái lát, tẩm rượu hoặc tẩm

nước gừng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Vỏ lột về rửa sạch, cạo bỏ vỏ thô ở ngoài, phơi râm, ủ lá chuối 7 ngày (thỉnh thoảng đảo cho đều) để dậy mùi thơm, rồi lấy ra phơi nhẹ cho khô. Khi dùng thì lại rửa qua nếu bẩn, thái ngắn. Sấy nhẹ cho khô, không phải tẩm sao (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

+ Bóc vỏ, rửa sạch, phơi khô trong râm. Dùng sống hoặc rửa rượu rồi sao (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Bảo quản : Dễ mốc, để chỗ mát, tránh nóng ẩm, mất tinh dầu.

Thành phần hóa học :

. Syringin, Eleutheroside B1, Sesamin, 16 Anpha-hydroxy-kauran-16-en-19-oic acid (Hướng Nhân Đức 1983, 25 (4) : 356).

. Ent-kauran-16-en-19-oic acid  (Tống Học Hoa, Trung Quốc Dược Khoa Ddaị Học  Học Báo 1987, 18 (3) : 203).

. Beta sitosterol, Beta sitosterol glucoside, Stearic acid (Hướng Nhân Đức 1983, 25 (4) : 356).

. Palmitic acid, Linoleic acid (Trung Quốc Y Học Khoa Học Viện Dược Vật Nghiên Cứu Sở – Trung Thảo Dược Hữu Hiệu Thành Phần Đích Nghiên Cứu 1972, 382).

Tác dụng dược lý :

+ Có tác dụng trị mệt mỏi tốt hơn Nhân sâm. Tăng sức chịu đựng đối với thiếu oxy, nhiệt độ cao, điều tiết rối loạn nội tiết, điều tiết hồng cầu, bạch cầu và huyết áp, chống phóng xạ, giải độc. Ngũ gia bì có tác dụng chống lão suy, tăng thể lực và trí nhớ, tăng chức năng tuyến tình dục và quá trình đồng hoá, gia tăng quá trình chuyển hoá và xúc tiến tổ chức tái sinh (Trung Dược Học).

+ Có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể như tăng khả năng thực bào của hệ tế bào nội bì võng, tăng nhanh sự hình thành kháng thể, làm tăng trọng lượng của lách. Thuôc còn có tác dụngkháng virus, kháng tế bào ung thư, điều chỉnh miễn dịch (Trung Dược Học).

+ Ngũ gia bì có tác dụng an thần rõ, điều tiết sự cân bằng giữa hai quá trình ứ chế và hưng phấn của trung khu thần kinh. Tác dụng hưng phấn của thuốc không làm ảnh hưởng đến giấc ngủ bình thường (Trung Dược Học).

+ Ngũ gia bì có tác dụng kháng viêm cả đối với viêm cấp và mạn tính (Trung Dược Học).

+ Ngũ gia bì có tác dụng giãn mạch, làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và hạ huyết áp (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng long đờm, giảm ho và làm giảm cơn hen suyễn (Trung Dược Học).

+ Ngũ gia bì có tác dụng chống ung thư (Trung Dược Học).

Tính vị :

. Vị cay, tính ôn (Bản Kinh).

. Vị cay, đắng, tính ôn (Trung Dược Học).

. Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy kinh :

+ Vào kinh Phế, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Vào kinh Can, Thận (Trung Dược Học).

+ Vào kinh Can, Thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tác dụng, Chủ trị :

+ Bổ trung, ích tinh, mạnh gân xương, tằn trí nhớ (Danh Y Biệt Lục).

+ Minh mục, hạ khí bổ ngũ lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Mạnh gân xương  (Bản Thảo Cương Mục).

+ Hoá đờm, trừ thấp, dưỡng thận, ích tinh, trừ phong, tiêu thuỷ (Bản Thảo Tái Tân).

+ Trừ phong thấp, mạnh gân xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Lợi thuỷ, trị trẻ nhỏ xương cốt mềm yếu, bước đi khó khăn (Liêu Hạ Thảo Dược Thủ Sách).

+ Trị cước khí, mụn nhọt lở độc (Đông Bắc Dược Dụng Thực Vật).

Kiêng kỵ :

+ Âm hư hoả vượng: không dùng (Thực Dụng Trung Y Học).

Liều dùng : 6-12g.

Đơn thuốc kinh nghiệm :

+ Trị phong thấp đau nhức, cơ thể mệt mỏi, đau nhức, liệt dương: Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu 30o một lít, ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 20~40ml vào trước bữa ăn tối (Ngũ Gia Bì Tửu – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị thấp khớp:  Ngũ gia bì, Mộc qua, Tùng tiết đều 120g. Tán bột, mỗi lần uống 3~4g, ngày 2 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị phụ nữ cơ thể suy nhược: Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, Xích thược, Đương quy đều 40g. Tán bột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g (Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

+ Trị gẫy xương, sau khi phục hồi vị trí: Ngũ gia bì, Địa cốt bì đều 40g, tán nhuyễn, Gà 1 con nhỏ, lấy thịt, giã nát, trộn đều với thuốc, đắp bên ngoài, bó nẹp cố định, sau một uần, bỏ nẹp đi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị ngực đau thắt, mỡ máu cao: Dùng chất chiết xuất từ Thích Ngũ gia bì (Nam Ngũ gia bì)  chế thành thuốc viên ‘Quan Tâm Ninh’. Uống mỗi lần 3 viên, ngày 3 lần, liên tục 1~3 tháng. Đã trị 132 ca ngực đau thắt, có kết quả 95,45%, mỡ máu cao 53 ca, kết quả làm hạ Cholesterol và Triglycerid (Trung Y Dược Học Báo 1987, 4 : 36).

+ Trị bạch cầu giảm: dùng Thích Ngũ gia bì trị 43 ca bạch cầu giảm. Kết quả cho thấy so với chứng giảm bạch cầu do hoá liệu, có kết quả tốt hơn (Quảng Tây Y Học Viện Học Báo 1978, 3 : 1).

+ Trị bạch cầu giảm: Dùng viên Ngũ gia bì trị 22 ca, có kết quả 19 ca (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí 1982, 6 : 52).

+ Trị nhồi máu não: Dùng dung dịch chích Ngũ gia bì 40ml, cho vào 300ml dịch truyền Glucoz 10%, truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, kèm uống thuốc thang. Theo dõi 20 ca, có kết quả tốt (Cam Túc Trung Y Học Viện Học Báo 1988, 1 : 27).

+ Trị huyết áp thấp: Dùng viên Ngũ gia bì, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình. Kết quả tốt (Châu Long, Trung Quốc Dược Thành Phẩm Đích Nghiên Cứu 1985, 12 : 43).

Tham khảo:

Ngũ gia bì có thể làm mạnh gân xương được là nhờ công năng khu phong, trừ thấp. Khu được tà thì Can Thận mạnh, gân xương được thông. Ngũ gia bì có hai loại, thứ dùng làm thuốc là Nam Ngũ gia bì, có mùi thơm. Còn bắc Ngũ gia bì có độc, khi dùng phải cẩn thận (Thực Dụng Trung Y Học).

+ Ngũ gia bì tuy không có tác dụng thuần bổ nhưng cùng không có hại tổn thương chính khí. Gọi là Ngũ gia bì tửu nên có thể dùng uống lâu dài (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Posted in Cây thuốc - Vị thuốc | Tagged , | Để lại bình luận