Bào ngư

Tên Việt Nam: Bảo ngư, Thạch quyết minh.

Tên Hán Việt khác: Khảo ngư (Lễ Ký), Tiêu triết ngư, Can ngu, Đạm ngư, Tiêu ngư, thạch quyết minh, Phúc ngư, Bào ngư (Động Vật Học Đại Từ Điển), Cửu khổng, Bào ngư, Pháp ngư (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học: Haliotis sp (sea-eas hoặc Abalone hoặc Ormer seeobr).

Họ khoa học: Haliotidae.

Tên gọi:

(1) Vị thuốc như đá (Thạch) lại có công năng làm tan màng, sáng mắt (Quyết  minh).

(2) Thường có 9 lỗ (có con 13 lỗ) là nơi hô hấp của Bào ngư nên còn gọi là Cửu (9) Khổng (lỗ).

Mô tả: Bào ngư thuộc họ Haliotidae, lớp phúc túc (Gastropoda), ngành nhuyễn thể (Mollusca). Sống ở độ nước sâu từ 2-12m, lúc còn nhò ở nơi cạn khi lớn lên thì ở chỗ sâu hơn. Đáy nơi đó phải nhiều đá sỏi, trên lớp đá có phủ một ít bùn mịn, sinh đẻ vào tháng 1-2. Bào ngư là loại ốc có vỏ cứng như vỏ sò, nhưng dẹt hơn ở mép vỏ có 7-13 lỗ nhỏ để không khí ra vào. Chân là một khối thịt dính liền với thân nằm quanh mép vỏ. Muốn di chuyển thì khối thịt phát co giãn để di chuyển thân mình. Khi bị bắt thì khối thịt đó rút vào trong vỏ. Chân thường bám rất chắc chắn vào đá, thức ăn là rong rêu trên đá.

Phân biệt:

(1) Khác với vỏ ốc (Placuna Sp). vỏ sò (Cardium flavum L.).

2. Ngoài con Bảo ngư trên ra, người ta dùng vỏ của các con: Dương bảo (Haliotidis ovina Gmelin) Bàn đại hảo (Haliotidis gigantea diccus Reeve), Cửu khổng bảo (Haliotidis diversicolor Reeve)… Đều được dùng với tên Bảo ngư.

Phần dùng làm thuốc: Vỏ (Concha haliotidis).

Mô tả dược liệu: Vỏ có 7-13 lỗ, thường là 9 lỗ. Ngoài vỏ có mầu nâu hoặc xanh tía, bên trong trơn nhoáng bóng nhiều màu sắc như xà cừ, khô nguyên vỏ, dầy. Không có mùi hôi là tốt Không dùng loại không có lỗ.

Sản địa: Sống ở hải đảo hoặc ven biển có rạn đá ngầm, nơi độ mặn của nước cao. Có ở miền bắc Việt Nam (Đảo bạch long vĩ. Cô tô, Cát bà) và chân núi đèo ngang.

Thu hoạch: Thường bắt đầu từ tháng 7-10, là thời nước ấm dễ lặn và cũng là lúc Bảo ngư mập nhất.

Sơ chế: Bắt về  rửa sạch đất cát, rong rêu bám vào, xong rửa bằng nước muối loãng, rồi cậy miệng vỏ ra phơi khô dùng làm thuốc. Còn thịt nấu chín phơi khô bán riêng, thịt là một trong những món ăn sơn hào hải vị.

Bào chế:

1- Theo sách cổ: Nấu Bào ngư với nước muối, xong tán bột, thủy phi dùng (Lý Thời Trân).

2- Các phương pháp hiện nay:

– Cạo sạch hết vỏ ngoài rửa sạch phơi khô, không được đốt tồn tính, vì nóng quá sẽ thành vôi mất tác dụng, làm như sau: Rửa sạch tẩm nước giấm loãng (5%) trộn xóc đều, rửa lại. Xếp 3-4 con lại 1, lấy đất nắn lại nung cho đỏ đất ngoài, vỏ còn màu xanh xám nhạt là được. Tán bột mịn sắc uống. Khi làm hoàn tán thì thủy phi. Hoặc có người lại cho vào nồi đất phủ cám ướt (Để điều hòa nhiệt), nhưng cũng có người không phủ cám, trét kỷ, bên ngoài phủ trấu (lượt than, lượt trấu) đợi cho đến khi nào còn màu nâu nhạt  là được. Nhúng qua giấm loãng  còn vỏ đang nóng để giễ tán.

Bảo quản:  Để nơi khô ráo.

Kiêng kỵ: Tỳ Vị hư hàn và không có thực nhiệt thì cấm dùng.

Tính vị: Vị cay hôi, mặn, tính ấm, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Quy kinh: Vào kinh, Phế và Can (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Chủ trị: Ho lao, thoát vị bẹn, sỉa dái, gãy xương chân, ứ huyết, phong thấp ở tứ chi, huyết không tán được, rong kinh.

Tham khảo:

1) Bào ngư cho đầu gọi là Bào ngư đầu, nấu lấy nước trị mờ mắt, đinh nhọt, bệnh thời khí những vết thương tích dùng nó với Ma nhân. Hành đậu, nấu canh ăn rất tốt, lại có tác dụng thông sữa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

2) Cho vỏ Bào ngư vào cốt sứ, đổ sâm sấp nước, rồi nghiền thành bột nhỏ. Sau đó thêm nước cho ngập nước 3-5 cm, khuấy đều, vớt bỏ màng bụi nổi trên mặt nước. Vừa khuấy nhẹ vừa gạn nước lẩn bột sang một bình. Nhưng cặn lớn ở dưới thì để lại, thêm nước nghiền tiếp như trên 2-3 lần. Các nước gạn hòa lẫn để lắng gạn bỏ nước trong, lấy cặn lắng phơi khô. Ngày uống 5 phân 3g dưới dạng bột chuyên trị đau dạ dầy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

3) Bào ngư cạo sạch vỏ đen tán nhỏ, thủy phi, mỗi lần dùng 2,15g bỏ vào giữa gan dê, nấu chín để xông 2 mắt còn nước và gan đem ăn. Mỗi ngày làm 1 lần (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

About quantri

Thông tin sức khỏe cộng đồng
This entry was posted in Cây thuốc - Vị thuốc and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s