Biện chứng luận trị trong điện châm điều trị cắt cơn đói ma tuý

Ma tuý vào cơ thể ở mỗi người không giống nhau ở các tạng phủ mà nó tùy thuộc vào các đáp ứng của cơ thể mỗi người mà gây ra các chứng trạng khác nhau. Ở người này triệu chứng khác với người kia. Quy lại ma túy vào cơ thể đều gây nên một trong nǎm chứng trạng chính đó là:

1.Nhóm chứng trạng thuộc Can – Đởm:
– Pháp điều trị: Thanh nhiệt, tả hỏa.
+ Châm tả: Hành gian Khúc trì
Phong trì Hợp cốc
Suất cốc Bách hội
Đồng tử liêu Thượng tinh
+ Châm bổ Túc tam lý, tam âm giao
Can – Đởm không chỉ có ý nghĩa hẹp về chức nǎng sinh lý giải phẫu của lá gan, túi mật mà còn có chức nǎng điều khiển trụt tiếp về lý trí, ý thức của con người. Vì thế châm tả các huyệt: Hành gian, Phong trì, Suất cốc, Đồng tử liêu có tác dụng bình can giáng hỏa, làm cho lý trí, ý thức của bệnh nhân dần dần trở lại .
Châm tả các huyệt: Khúc trì, Hợp cốc (thuộc kinh Thủ dương minh đại trường) có tác dụng thanh nhiệt, châm tả Bách hội, Thượng tinh có tác dụng bình can tinh thần, làm cho tinh thần của bệnh nhân tỉnh lại, hết cáu gắt, bực tức. Châm bổ Túc tam lý (kinh Túc dương minh vị) có tác dụng lương huyết thanh nhiệt nâng cao chính khí của cơ thể. Tam âm giao và Túc tam lý có tác dụng kiện tỳ bình can.

2. Nhóm chứng trạng thuộc Tỳ – Vị :
– Pháp điều trị: kiện tỳ, bình vị thanh nhiệt.
+ Châm tả: Thủy đột Thiên khu
Trung quản Cưu vĩ
Thượng liêm tuyến Chương môn
Lương môn
+ Châm bổ: Túc tam lý.
Cảm khoái và sự thèm muốn dùng ma tuý của bệnh nhân, do chức nǎng của Can – Tâm có liên quan mật thiết với chức nǎng của Tỳ – Vị (khai khiếu tại khẩu – vị giác).
Châm tả Thủy đột, Thiên khu, Lương môn (kinh Túc dương minh Vị) có tác dụng làm cho khí của Vị giámg xuống, bệnh nhân hết nôn hoặc buồn nôn, đỡ đau bụng, huyệt Chương môn (kinh Túc quyết âm can) có tác dụng bình can (vì Can thuộc mộc khắc Tỳ thổ, khi tả Chương môn dẫn đến kiện Tỳ mạnh lên làm cho khí của Tỳ- Vị được điều hoà, bệnh nhân hết đau bụng đi ngoài).
Huyệt Trung quản, Cưu vĩ có tác dụng điều hoà Vị khí. Thượng liêm tuyền có tác dụng kiện Tỳ bổ Vị, bệnh nhân hết đau bụng, đi ngoài, ǎn được.

3. Nhóm thực trạng thuộc Tám – Tám bào:
– Pháp điều trị: Bình tâm, an thần, thanh nhiệt.
– Châm tả: Nội quan Đồng tử liêu
Hợp cốc Nội quan
Thần môn
– Châm bổ: Quan khí nguyên Khí Hải
Tân không chỉ có chức nǎng “chủ huyết mạch” mà còn quản lý sự hoạt động về tinh thần tình cảm, tư duy của con người (chủ thần minh).
Châm tả các huyết Nội quan. Thần môn để dưỡng tâm, tinh thần làm cho bệnh nhân hết hồi hộp, bồn chồn. Hợp cốc (kinh Thủ dương minh Đại trường) có tác dụng tả dương thanh nhiệt.
Châm bổ các huyệt Khí hải, Quan nguyên để bổ âm dưỡng huyết, giải quyết các triệu chứng bứt dứt, vã mồ hôi.

4. Nhóm chứng trạng thuộc Thận – Bàng quang
– Pháp điều trị: bổ thận, thông kinh hoạt lạc
– Châm tả: Đại trường du Ân môn
Uỷ trung Thừa sơn
Côn lôn Giáp tích L2-L3
– Châm bổ: Thận du Thái khê
Chức nǎng của Thận không phỉa là chỉ bài tiết thanh lọc, đào thải trong chuyển hoá, mà thận còn có chức nǎng “chủ cốt tuỷ” và “tàng tinh”. Các triệu chứng của cơn nghiện nhức trong xương (dòi bò) thì châm tả các huyệt như: Đại trường du, Uỷ trung… châm bổ huyệt Thận du. Thái khê để bổ thận, dưỡng âm tốt vì “thận sinh tủy, tuỷ sinh cốt” thì các dấu hiệu dòi bò trong tủy sẽ hết.
Châm huyệt giáp tích L2-L3 có tác dụng thông kinh hoạt lạc làm cho hết triệu chứng đau lưng. Ngoài ra châm bổ Thận du còn có tác dụng tàng tinh diều trị cả di mộng tinh cho bệnh nhân nam.

Thận du còn có tác dụng tàng tinh diều trị cả di mộng tinh cho bệnh nhân nam.
5. Nhóm chứng trạng thuộc Phế-Đại trường:
– Pháp điều trị: Thanh nhiệt, tuyên phế khí
– Châm tả: Khúc trì Phù đột
Hợp cốc Đản Trung
Thiên đột Quyền liêu xuyên Nginh hương
– Châm bổ: Tan âm giao, Trung phủ, Túc tam lý ta biết hơi thơm á phiện, cảm giác khoan khoái, nhẹ nhõm khi dùng á phiện có liên quan mật thiết với Phế – Đại trường, vì Phế chủ khí phế triều bách mạch, phế khai khiếu tại tỵ
Để ngǎn chặn kích thích hơi thơm á phiện, châm tả Quyền liêu xuyên Nghinh hương, để khống chế cắt đứt truyền dẫn thơm qua mũi vì vậy bệnh nhân không có cảm giác nhớ thèm thuốc nữa.
Châm tả các huyệt Phù đột, Thiên đột, Đản trung có tác dụng điều hòa phế khí do đó bệnh nhân hết khó thở, giảm nghẹt cổ do các phế quản co thắt.
Châm tả huyệt Hợp cốc, Khúc trì để thanh nhiệt phế khí do đó bệnh nhân cắt được cơn.

BS. Nguyễn Diên Hồng

About quantri

Thông tin sức khỏe cộng đồng
This entry was posted in Chữa bệnh không dùng thuốc. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s